
Màng sáp bọc quanh buồng ấu trùng là lớp “áo khoác” nhiều tầng mà ong dú tự dựng bằng sáp trộn keo, quấn quanh khối buồng nuôi con. Nó giữ nhiệt, giữ ẩm và chặn bớt kẻ lạ lọt tới con non. Mở nắp thấy màng dày, liền mạch, màu đều là đàn đang ổn; thấy màng mỏng dần, rách mà không vá, hay bị bóc trơ ra là đàn đang có chuyện cần xem kỹ.
Trong thùng nuôi, khối buồng ấu trùng thường nằm ở khoảng giữa hoặc lệch về phía cửa, còn hũ mật và hũ phấn xếp quanh rìa, ra xa hơn. Màng sáp là lớp ngăn cách giữa hai khu đó. Nhìn từ trên xuống khi mở nắp, người nuôi thường thấy một mái vòm hoặc một tấm màn mỏng màu nâu sậm, nâu vàng hay đen nhạt, phủ lên khối buồng. Có tổ màng phủ kín như cái bát úp; có tổ chỉ phủ một nửa, nửa còn lại lộ ra những buồng tròn nhỏ xếp thành cụm hay thành tầng.
Sờ nhẹ đầu ngón tay vào thì thấy màng mềm, hơi dẻo, dính tay, không giòn như sáp ong mật. Đó là vì vật liệu của ong dú là sáp tiết ra từ ong thợ trộn với nhựa cây chúng tha về. Tỉ lệ nhựa càng cao thì màng càng sẫm và càng dính. Nhìn ngang mép màng sẽ thấy nó không phải một lớp mà là nhiều lớp mỏng như giấy pơ-luya chồng lên nhau, mỗi lớp cách nhau một khe hẹp vừa cho ong bò qua.
Ong dú không làm ấm tổ giỏi như ong mật. Một đàn ong mật có hàng vạn con, rung cơ ngực để sưởi, giữ buồng nhộng gần như cố định quanh mức ba mươi tư, ba mươi lăm độ. Đàn ong dú chỉ vài nghìn con, thân nhỏ, sức sinh nhiệt yếu. Chúng bù lại bằng cách “may áo” cho khối buồng: các lớp màng chồng nhau với khe khí ở giữa làm thành lớp cách nhiệt, nhiệt từ ấu trùng và từ ong bò trong khe được giữ lại lâu hơn.
Kinh nghiệm của nhiều nhà nuôi: bên trong lớp màng thường ấm hơn khoảng trống phía hũ mật vài độ vào sáng sớm mùa lạnh. Ban trưa nắng gắt thì ngược lại, lớp màng cũng làm chậm sức nóng đi vào. Ấu trùng ong dú phát triển tốt nhất trong khoảng chừng hai mươi tám đến ba mươi hai độ; dưới hai mươi độ kéo dài nhiều đêm thì ong non nở chậm, quá ba mươi lăm độ nhiều giờ thì buồng dễ chết khô. Màng sáp là thứ giúp khối buồng không chạy theo sát nhiệt ngoài trời.
Buồng ấu trùng ong dú là buồng kín: ong thợ đổ thức ăn vào, chúa đẻ trứng lên trên rồi ong bịt nắp lại. Con non sống cả đời trong khối thức ăn sệt đó cho tới khi thành ong. Nếu không khí quanh buồng quá khô, thức ăn mất nước, ấu trùng ăn không hết hoặc khô quắt. Màng sáp giữ một túi khí ẩm hơn bao quanh khối buồng, nhất là ở vùng gió Lào hay những tuần nắng khô cuối mùa khô ở miền Trung, Tây Nguyên.
Không có độ dày chuẩn. Màng thay đổi theo thời tiết và theo sức đàn, nên so tổ này với tổ kia ít có ý nghĩa bằng so chính một tổ qua các tháng.
| Hoàn cảnh | Màng thường thấy | Người nuôi hiểu là |
|---|---|---|
| Mùa đông miền Bắc, vùng cao Tây Nguyên ban đêm dưới 18 độ | Nhiều lớp, kín gần hết khối buồng, màu sẫm | Đàn đang giữ ấm, bình thường |
| Đầu mùa mưa miền Nam, nóng ẩm | Hai ba lớp, có chỗ hở để thông khí | Đàn cân bằng giữa mát và ẩm |
| Giữa mùa nắng, thùng hấp nắng chiều | Màng bị gỡ bớt, buồng lộ nhiều | Đàn đang cố hạ nhiệt, nên xem lại chỗ che |
| Mùa hoa rộ, đàn tăng quân nhanh | Màng mới màu sáng ở rìa, khối buồng phình to | Đàn đang mở rộng buồng |
| Đàn yếu, ít ong | Màng mỏng, thưa, nhiều chỗ thủng không vá | Không đủ quân giữ áo, cần xem nguyên nhân |
Chính vì đàn tự gỡ bớt màng khi quá nóng, nên khi mở nắp giữa trưa mà thấy khối buồng trơ trọi, đừng vội kết luận đàn yếu. Hãy đặt tay lên nắp thùng: nắp nóng hầm hập là lý do đã rõ. Đọc thêm cách làm mát ở mục Chống nóng, chống ẩm cho tổ.
Mở nắp là một lần làm rách. Màng thường dính vào mặt dưới nắp hay vào vách, nhấc nắp lên là kéo theo một mảng. Vậy nên rách ngay sau khi mở là chuyện thường. Điều cần đọc là chuyện xảy ra trong mấy ngày sau.
Mép rách sắc, còn tươi, thường ở phía trên khối buồng, sát chỗ nắp dính. Đàn khoẻ sẽ kéo sáp từ chỗ khác sang vá; sau hai, ba ngày nhìn qua cửa kiểm tra đã thấy chỗ thủng được phủ một lớp sáp mới màu nhạt hơn. Đàn vá chậm quá một tuần là đàn thiếu ong thợ trẻ, những con chuyên tiết sáp.
Lỗ rách có mép nham nhở, có khi thấy xác ong hay xác kiến quanh đó, buồng bên dưới bị khoét. Kiến thường vào theo khe nắp hoặc đáy thùng rồi đi thẳng vào chỗ có ấu trùng. Gặp trường hợp này, vá màng không phải việc của người nuôi; việc của người nuôi là chặn đường vào của kiến. Cách chặn có trong bài về kiến ở mục Tổ yếu, tổ bệnh, tổ sập.
Có những tổ không ai đụng mà lớp màng vẫn thưa dần, khối buồng nhỏ lại, bên trong màng còn những khoảng trống rỗng. Đây là đàn đang co: ít trứng, ít ong non, ong thợ tháo sáp từ màng đem đi xây chỗ khác hoặc bịt khe. Đây là dấu hiệu đáng ghi vào sổ và theo dõi sát hơn so với một mảng rách to do mở nắp.
Có vài tình huống người nuôi can thiệp được mà không phá việc của đàn. Thứ nhất, khi một mảng màng lớn bị kéo theo nắp, sập xuống đè lên khối buồng: nhẹ tay dùng que tre gạt mảng sáp sang một bên cho thông lối, đừng gỡ bỏ. Thứ hai, vào mùa lạnh mà đàn yếu, màng thưa: có thể bọc thêm lớp ngoài thùng, kê thùng khỏi đất ẩm, che gió lùa cửa tổ, để đàn đỡ phải giữ ấm một mình. Thứ ba, sau khi tách tổ, tổ con thường thiếu màng; đặt kèm một nhúm sáp cũ sạch lấy từ chính tổ mẹ giúp đàn có vật liệu ngay.
Những việc như thế làm trong buổi chiều mát, mở nắp nhanh, đậy lại đúng chiều cũ, không kéo dài quá vài phút.
Màng sáp là thứ dễ nhìn nhất trong tổ mà lại nói được nhiều. Mỗi lần mở nắp, chỉ cần ghi ba ý: màng phủ bao nhiêu phần khối buồng (kín, quá nửa, dưới nửa), màu (sáng mới, nâu, đen cũ), và có chỗ rách cũ chưa vá không. So ba ý đó qua bốn, năm lần kiểm là người nuôi đã thấy đàn đang lên hay xuống, trước khi số ong ở cửa tổ kịp giảm. Cách ghi gọn từng tổ có ở mục Đánh mã và quản lý từng tổ; ai có nhiều tổ có thể ghi thẳng trên ứng dụng quản lý tổ để khỏi lạc sổ.
Lần mở nắp tới, đừng nhìn hũ mật trước. Nhìn khối màng: phủ kín hay hở, màu gì, có lỗ nào mép nham nhở không. Chụp một tấm ảnh từ cùng một góc. Ba ngày sau nhìn qua cửa kiểm tra xem chỗ rách đã được vá chưa. Nếu vá rồi, đàn đủ quân, cứ để yên. Nếu chưa, xem ngay ba thứ: kiến quanh chân thùng, nắp có bị nóng quá không, và cửa tổ có ít ong ra vào hơn tuần trước không.
Màng là sáp trộn nhựa cây, không phải mật hay phấn, nên không ai thu để ăn. Thu nó chỉ làm đàn mất áo giữ ấm. Khi thu mật chỉ lấy hũ mật ở rìa, không đụng tới khối màng.
Màu sẫm đến từ nhựa cây ong tha về và từ việc sáp được dùng đi dùng lại nhiều lần. Màng đen ở tổ lâu năm là bình thường. Chỉ đáng lo khi màng đen kèm mùi chua, ẩm nhớt và có mốc trắng xanh.
Một lần rách do mở nắp gần như không làm đàn bỏ tổ nếu đàn khoẻ và người nuôi đậy lại nhanh. Rủi ro tăng khi mở nhiều lần trong tuần, mở lúc trời lạnh, hoặc để kiến lọt vào chỗ rách.
Với tổ con mới tách hoặc đàn mới chuyển thùng, một nhúm sáp cũ sạch của chính trại giúp đàn có sẵn vật liệu. Với đàn đã ổn định thì không cần. Đừng dùng sáp ong mật hay sáp mua ngoài vì mùi lạ.
Có thể, nhất là ở nơi ít cây có nhựa như vùng ruộng trống hay vườn mới trồng. Nhưng nguyên nhân hay gặp hơn là đàn ít ong thợ trẻ. Hãy xem số ong ra vào cửa và số hũ phấn trước khi đổ cho nguồn nhựa.
Đàn khoẻ thường phủ lại lỗ rách nhỏ trong hai, ba ngày, mảng lớn trong khoảng một tuần. Quá thời gian đó mà chỗ hở vẫn còn là lúc nên xem lại sức đàn.
Nhóm nuôi ong và biên tập của Trại Ong Dú OngDu.com — trại nuôi ong dú thật cách trung tâm TP.HCM khoảng 40km, mở tour cho khách tự tay mở thùng và thu mật. Bài viết dựa trên việc làm hằng ngày ở trại và những lỗi người mới hay g…
Xem trang tác giả →
Phấn hoa ong dú chua vì được trộn mật, đóng kín trong hũ sáp rồi lên men; hũ khoẻ chua dịu, khô ráo, hũ hỏng thì chảy nước, mốc, có dòi và mùi hôi.
Không phải con nào cũng làm việc như nhau. Công việc trong tổ chia theo tuổi ong.
Không cần mở nắp vẫn đọc được nhiều về đàn — chỉ cần nhìn cái ống sáp ở cửa tổ.
Ong dú không có cầu ong. Mật để trong hũ, ấu trùng nuôi ở khu riêng — hai thứ tách bạch.
Một chi tiết cấu trúc giải thích gần hết các quy tắc của nghề — vì sao ít mở tổ, vì sao mất chúa là mất đàn.
Mở tổ ra rồi lúng túng không biết nhìn gì là chuyện thường của người mới. Có một thứ tự rõ ràng, và nó mất chưa tới một phút.
Trục vật lý: bản thân cái tổ. Cấu trúc bên trong tổ ong dú, thùng nuôi, kích thước, vật liệu, chống nóng chống ẩm, cách tách đàn, cách đánh mã và quản lý từng tổ, mua tổ giống. Chi tiết kỹ thuật ở mức bàn tay chạm vào được.